Sống và đánh giặc với lính Nùng SĐ5BB/QLVNCH

Trần Cẩm Tường

2Posted on March 12, 2016

</header>

Tôi viết những lời thơ trên khi đọc bài viết của Niên trưởng Giao Chỉ Vũ Văn Lộc (GCVVL) khi mới đây ông kể lại chuyện QLVNCH tái chiếm Cổ Thành Đinh Công Tráng.

Có Những Vần Thơ

“Cờ bay ! Ôi Cờ bay !!
Trên Cổ Thành sừng sững
Còn cờ nào…không bay
Xác Nhẩy Dù …ôm cứng ?

Chết ôm cờ : Mũ Đỏ !
Sống dựng cờ : Mũ Xanh !!
Ghi rõ trong Quân Sử

Công trạng của các anh “

Cổ Thành Quảng Trị
(Truyện Chúng Mình/HN)

Tôi viết những lời thơ trên khi đọc bài viết của Niên trưởng Giao Chỉ Vũ Văn Lộc (GCVVL) khi mới đây ông kể lại chuyện QLVNCH tái chiếm Cổ Thành Đinh Công Tráng, Quảng Trị 15/09/1972.

Vào tuổi ngoài 70, theo gương Mục Sư Lập (thầy dậy Khóa Cương Quyết, Sỹ Quan Trừ Bị Thủ Đức), tôi nghĩ rằng ..mọi chuyện đều nhẹ nhàng, hư vô, cố làm việc tốt mỗi ngày dâng lên CHÚA…
Nhưng  cho thật rõ ràng, tôi xin kể lại  tại sao đời tôi liên hệ tới Mũ Đỏ (Nhẩy Dù), Mũ Xanh (Thủy Quân Lục Chiến), Mũ Đen (Lữ Đoàn Liên Binh/Phòng Vệ Tổng Thống Phủ..để nhất tuấn đã có những vần thơ :

“..Mũ Đỏ, Xanh, Đen…đều đội hết
Làm tên lính …giữ nước không xong !!!
Quê Người thương mãi về Quê Mẹ
Thật tủi cho con Tổ cháu Tông !
Nhắc Truyện. Chúng Mình (1) đau truyện Nước
Chờ Xuân, năm mãi…bốn mùa Đông

Tướng Mạo Quân Vụ (trích ngang)

10/1953           gia nhập trường Võ Bị Nam Định, khóa 7
02/1954           tình nguyện phục vụ tiểu đoàn 5 Nhẩy Dù VN
01/ 1961          do thư điệp của Văn Phòng Biệt Bộ Tham Mưu/Phủ Tổng thống

Tổng Thống chỉ thị:các sỹ quan thuộc Nha Chiến Tranh Tâm Lý/BQP gồm đại úy Khiếu Hữu Diêu  thuộc quyền xử dụng của Liên Đoàn Nhẩy Dù và trung úy Phạm Hậu  id của Liên Đoàn Thủy Quân Lục Chiến :
Đại Úy Diêu về làm Phụ Tá Trưởng Phòng 3 L Đ Dù, sau là Tiểu Đòan trưởng TĐ3/ND.
Trung Úy Hậu về làm Sỹ Quan Trưởng Ban 2&3 của Tiểu Đoàn 1 TQLC.

Hai tháng sau, khi có lệnh rời đơn vị, dù sỹ quan đương sự làm đơn xin tình nguyện ở lại với  TĐ1/TQLC, trên vẫn không chấp thuận; do đó Trung Úy Phạm Hậu vừa được vinh thăng đại úy, về làm Đại Đội Trưởng Đại Đội 3  trực thuộc Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ/ Phủ Tổng Thống.

Ở Nhẩy Dù vẻn vẹn từ 3/1954 tới 3/1955, bị giáng cấp từ trung sĩ xuống binh nhì, rồi đào ngũ, tuy vậy tôi có nhiều kỷ niệm với các sỹ quan, trung đội trưởng ngày xa xưa,  tới nay vẫn còn liên lạc lai rai với các đại tá  Nguyễn Phẩm Bường, Đỗ Đình Lũy, Hoàng Đức Ninh, Nguyễn Văn Tường và  cả 2 vị trước khi chết  Nguyễn Bá Trước, Huỳnh Long Phi. ….
Đọc bài của niên trưởng GCVVL xong, tôi cảm khái tột cùng. Trong bài viết này, có cả bài thơ của thi sĩ Cao Tiêu, với hai câu chót: :

Lòng ta … như Thành này
Vinh Quang  trong tan nát”

Và vì 2 câu thơ này, sau hơn 40 năm rời Đài Phát Thanh Quân Đội tôi đã xin liên lạc với niên trưởng Hoàng Ngọc Tiêu để bầy tỏ sự cảm phục của tôi về 10 chữ cuối cùng trong bài thơ đó, bài thơ ông viết khi tôi đã rời Cục Tâm Lý Chiến, đang ở bên bộ Thông tin. Chút duyên thơ cuối đời đã giúp tôi thoải mái làm việc này với cấp chỉ huy cũ và cũng là vị Niên Trưởng hơn tôi 8 khóa học ở VB ĐL mà một lần trong buổi họp tôi đã có cử chỉ vô lễ với thượng cấp.
Sáng nay, 01/08/2009, đọc email thứ hai của niên trưởng GCVVL về Cổ Thành Quảng Trị, tôi càng cảm động hơn vì ông viết:

“Lịch Sử và tính chất Nhân Bản của trận Quảng Trị mới là điều đáng chú ý để giữ lại cho con cháu đời sau! “

Niên trưởng GCVVL đã viết khá nhiều chi tiết về trận đánh này… vì đa số  nhân vật chính, Lữ Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn trưởng và sỹ quan tham mưu đều thuộc Khóa 4 Phụ/ Khóa Cương Quyết, trường Võ Bị Trừ Bị Thủ Đức. Không kể trong số này có 3 người cùng Khóa Cương Quyết (khóa 4 Phụ Thủ Đức) với ông, có người cùng Trung Đội khi học ở trong trường.

Vì phía Mũ Đỏ, những người trực tiếp tham dự trận Cổ Thành Quảng Trị chưa có ai lên tiếng; tôi, cựu binh nhì Mũ Đỏ, xin phép được góp đôi lời về phía Nhẩy Dù. Có điều gì sơ xuất, xin quý vị trong Sư Đoàn Dù, đặc biệt Lữ Đoàn 2 ND vui lòng bổ chính cho. Đa tạ.

Tại sao TQLC thay thế Nhẩy Dù dứt điểm Cỗ Thành?
Nhảy Dủ đánh không nổi ??   

Xin nhớ là khởi đầu, ND đã thanh toán Tri Bưu Triệu Phong , tất cả các chốt ngoại và sát Nội Thành Quảng Trị, số thương vong cả ngàn quân.. Nay đã tới sát Cổ thành, chết nhiều nên phải đánh cho thật chắc chắn, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Dù chỉ thị:

1-Liên Đội Biệt Kích Dù (tăng phái):
Ngăn chặn việc tăng viện, tiếp tế của địch vào Cổ Thành từ phía Nam.
2-Trinh Sát Nhẩy Dù:
Ngăn chặn việc tăng viện, tiếp tế của địch vào Cổ Thành từ phía Bắc
3-Pháo binh cơ hữu của L Đ2 Dù phối hợp, để ít nhất mỗi giờ  pháo 100 viên (đạn đủ loại) vào các chỗ trú quân trong Cổ Thành.
4-Khi đánh Cổ Thành chúng ta chỉ chấp nhận thiệt hại quân số ít, hoặc địch xin đầu hàng.

Buổi họp sáng  ngày 16/7/1972, có khoảng 30 người dự :
BTL/Quân Đoàn có 10 người,
Nhẩy Dù và TQLC, mỗi bên 10 người.  .
Mở đầu buổi họp, tướng Ngô Quang Trưởng nói ngay vào điểm chính :

  •   Ngày mai, 17/7 TQLC sẽ thay ND đánh vào Cổ Thành

Vì tướng Dư Quốc Đống Tư Lệnh Dù cũng có mặt trong buổi họp nên đại tá Trần Quốc Lịch, Lữ Đoàn trưởng L Đ 2 ND giơ tay xin phép tướng Đống để hỏi tướng Truởng:

  • Xin phép tướng Tư Lệnh cho tôi có câu hỏi với Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn.

Ông Đống gật đầu

  • Kính thưa Trung Tướng Tư Lệnh Vùng 1/kiêm TL Quân Đoàn 1, câu hỏi của tôi như sau: “Nhẩy Dù chúng tôi đã đánh vào thành phố Quảng Trị từ lúc khởi đầu, nay chỉ còn có cái …”sân banh này”. Vì không thấy cần phải thí quân, chúng tôi chưa dốc hết toàn lực…Nay lại phải lui ra để TQLC vào…thật..
  • Đó là lệnh thượng cấp!! Ông Trưởng ngắt lời.

Và Ông Lịch cũng nói thẳng ngay  ý nghĩ  của mình có lẽ đã có sẵn trong đầu :

  • Thế này… chẳng khác nào ND.. cầm c.. cho người khác đái !!

Tướng Trưởng đứng phắt dậy, nghiêm mặt :

  • Buổi họp sẽ tiếp tục. Xin anh em chờ tôi.

Nói xong ông rời phòng thuyết trình bước nhanh sang phòng bên cạnh. Tướng Đống rất phật ý vì câu nói của đại tá Lịch nên khi ông Trưởng rời phòng, ông nói ngay :

  • Khi tôi cho phép, tôi thật không ngờ anh Lịch đã nói câu vừa rồi !

Việc gì rồi cũng sẽ qua đi cả.
Dù sao tướng Trưởng đã là Tham Mưu Trưởng và Tư Lệnh Phó của Nhẩy Dù chúng ta. Anh em nên nhớ kỹ điều này, điều quan trọng là  Quân Dân có quý mến chúng ta hay không ? Đó mới là điều tôi mong mỏi ở anh em. Đơn vị này chiếm thành này, đơn vị kia đánh bốt kia.. không quan trọng để anh em chúng ta mất hòa khí !!..
Trực tiếp với bộ tham mưu dưới quyền, ông dặn:

  • Lát nữa, khi tướng Trưởng trở lại phòng họp nói điều gì thêm , nếu tôi chưa nói, phía Nhẩy Dù không ai được phép lên tiếng.

Hôm đó Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng  Khiêm, đại tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Đặng Văn Quang chẳng biết có ở Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 1 hay không, nhưng chắc chắn đã tới Huế đêm hôm trước. Và cũng không hiểu ông Trưởng điện thoại hay nhận khẩu lệnh, 20 phút sau, tướng Trưởng trở lại phòng họp. Ông đứng nhìn mọi người một chút rồi  nói thật rõ ràng :

  • Nhiệm vụ là nhiệm vụ chung. Mỗi lúc một thích nghi cùng với các chỉ thị cần thiết cho các giới chức hay các đơn vị. Thượng Cấp chỉ thị: vào 25 tháng 7, thay vì 17/7 Nhẩy Dù sẽ bàn giao khu vực trách nhiệm cho TQLC để TQLC dứt diểm Cổ Thành  càng sớm càng tốt !

….
Nhưng lệnh dù phải thi hành theo thời gian nhanh nhất, tới khi TQLC vào vùng bàn giao xong cũng đã là  ngày 26/7/72.

Có 1 sự trục trặc không hiểu tại sao, trước khi Lữ Đoàn thông báo lệnh dậm chân tại chỗ để chuẩn bị bàn giao, tiểu đoàn 5(-) ND do Thiếu Tá Bùi Quyền, Tiểu Đoàn Phó, chỉ huy  đánh vào phía Đông Cổ Thành, và vào khoảng 10:00 AM ngày 25/07/72,  Không Quân của ta đã oanh kích lầm. Đại Đội Trưởng Trương Đăng Sỹ bị thương nặng, và một trung đội lính Dù mất tích !

Ngày 26/07 TQLC hoàn toàn thay thế Nhẩy Dù và 27/07, khởi sự tấn kích Cổ Thành Quảng Trị  cho tới 15/9/1972 thì hoàn toàn tái chiếm thành này. tại An Lộc Bình Long Bắc Quân tấn công bao vây 86 ngày, nay đã tự rút. Cổ Thành Quảng Trị Bắc Quân  chiếm giữ và 81 ngày, sau được Nam Quân tái chiếm. Khi lục xoát, TQLC thấy Bắc Quân chết khá nhiều  khắp mọi nơi và trong đó  có cả 2 xác Mũ Đỏ của Nam Quân đã chết cứng, nằm đè lên  lá cờ khổ 3×5, cây  Cờ Vàng ba Xọc Đỏ!!

…………

Bài này được viết với lời kể lại có ghi âm của các nhân vật trực tiếp tham dự  cuôc hành quân  của LD 2 Dù, từng bước, từ khi tái chiếm Tri Bưu, tới giai đoạn thanh toán các chốt trong thành phố và cũng đã dự buổi họp ngày 16/7/1972 cùng với  các ông Truởng, Đống, Lân  Lịch…

Hoa Kỳ 01/08/2009
Phạm Hậu

—————————-

Cũng nhân dịp này, tôi xin gửi những bài thơ tôi làm có liên hệ tới Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến từ nhiều năm qua:

Những Nàng Tiên Mũ Đỏ
Trung Đội Cũ
(đã phổ nhạc bởi nhạc sĩ Minh Châu , Paris, tháng 08/2009)
http://hathaykhongbanghayhat.org  –Kyra Nguyen hát
Trần Kiều Vinh
Khóa 12, Khóa Cộng Hòa

</div>
” data-medium-file=”” data-large-file=”” />

 

 

 

 

Suốt trong trận chiến An Lộc, mùa hè đỏ lửa năm 1972, Tr/Tá Lý Đức Quân là Trung ĐoànTrưởng/TRĐ7/SĐ5BB, TRĐ này đang hành quân phía tây thị xã An Lộc.  Ngày 7/4/72 toàn bộ đơn vị ông vào phòng thủ vòng đai phía tây nam thị xã từ cổng Xa Cam đến cổng Phú Lố. Sau trận An Lộc ông được vinh thăng Đại Tá và tiếp tục chỉ huy Tr/Đ7 cho đến khi tử trận.

(Bản đồ thị xã An Lộc năm 1972.Courtesy of Bui Quyen)

1

Khi SĐ5BB rời An Lộc về Lai Khê, Tướng Lê Văn Hưng rời SĐ, bàn giao chức vụ Tư Lệnh lại cho Đại Tá Trần Quốc Lịch (từ ND sang) thì vào ngày 25/5/1973 Đ.Tá Quân bay trực thăng điều động đơn vị, lúc đó đang hành quân phối hợp với BĐQ để tái chiếm Rạch Bắp (sát bờ đông sông Sài Gòn và ở phía tây nam quận lỵ Bến Cát khoảng 8km500). Sau đó trên đường bay về căn cứ của Tr.Đ7 ở Phú giáo, khi bay ngang không phận Chơn Thành thì trực thăng trúng đạn phòng không của VC, từ phía tây quận lỵ Phú Giáo bắn lên lúc 17.30g, làm Đ/Tá Quân tử thương. Ông chết lúc 43 tuổi, được truy thăng Chuẩn Tướng. Ông được an táng tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa lúc 10.00g ngày 31/5/73. Mộ ông nằm bên cạnh mộ cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí, một danh tướng QLVNCH sống cùng chiến đấu, chết cùng chôn nghĩa trang với lính.

Ông gốc người Nùng, sinh năm 1930 tại Hải Ninh, Bắc Việt (ngày nay là khu vực Tiên Yên, Móng Cáy, tỉnh giáp ranh Quảng Đông (Trung Hoa). Ông tốt nghiệp khóa 8 sĩ quan hiện dịch, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

Xám Pạc Kún" Lý Đức Quân(TĐT/TĐ3/8) và tác giả, hình chụp năm 1965

Súng trường cá nhân, bán tự động M1 Carbine, Súng cạc-bin M1 hay còn được gọi ngắn gọn là Cạc bin ở Việt Nam và nhiều nước khác ở Châu Á. Nó là một trong những khẩu súng trường bán tự động nhỏ, gọn, nhẹ và dễ sử dụng nhất thế giới, khẩu súng này đã trở thành một trong những khẩu súng thông dụng nhất của quân đội Hoa Kỳ trong suốt Thế chiến thứ hai, Chiến tranh Triều Tiên, nhưng cho đến năm 1965 nó và khẩu súng trường M1 Garand được thay thế bởi súng trường M16 và AR-15. https://vi.wikipedia.org/wiki/M1_Carbine

</div>

 

</div>

Trong chiến tranh Đông Dương, lính dù và lính bộ binh Pháp đã dùng khẩu M1 Carbine cùng với biến thể M1A1 của nó rất nhiều. Đây là loại súng cá nhân của quân đội quốc gia VN đã sử dụng trong quá khứ kéo dài cho đến khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm thành lập quân đội VNCH.
 
Một loại súng cá nhân khác được QL.VNCH sử dụng lúc ban đầu thành lập quân đội là súng trường M1 Garand là loại súng trường bán tự động do Hoa Kỳ thiết kế năm 1932 bởi nhà sáng tác người Mỹ John C. Garand, súng bắt đầu được sản xuất vào năm 1936, thường được trang bị cho bộ binh Hoa Kỳ và đây cũng là súng trường bán tự động đầu tiên trên thế giới. M1 Garand ngừng hoạt động tại Mỹ năm 1957 nhưng vẫn tiếp tục hoạt động tại nhiều quốc gia khác trong nhiều cuộc chiến. Đây là một trong những loại súng trường chiến đấu thành công trong Thế chiến II tương tự như Mosin-Nagant của Liên Xô, Lee-Enfield của Anh hay Karabiner 98k của Đức..
 
 
Vào những năm 1950-1975, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã nhận được một lượng lớn vũ khí từ thời thế chiến thứ hai do Hoa Kỳ viện trợ trong đó có khoảng 220.300 khẩu M1 Garand, chúng được trang bị cho các lực lượng bán quân sự của Việt Nam Cộng hòa. Đến năm 1962 trở về sau, khi QL.VNCH được trang bị súng trường AR-15, thì súng Garand không còn sử dụng ngoài chiến trường mà chỉ còn thấy ở các quân trường huấn luyện và còn được dùng để đi diển hành hoạc dùng cho các toán thủ quốc quân kỳ.

 

</div>

Quân đội của CSVN, cũng được OSS trang bị một số súng do Hoa Kỳ giúp đở vào những năm 1942-1945 . M1 Garand sử dụng không thông dụng trong cuộc chiến Việt Nam. Nhưng loại súng này là loại súng được dùng nhiều nhất cho các toán thủ quốc quân kỳ của QL.VNCH và dùng để trang bị cho các toán diển hành trong ngày quốc khánh hay quân lực.
 
SÚNG TRƯỜNG M14
M14 vẫn là vũ khí chính của bộ binh tại Việt Nam cho đến khi nó được thay thế bởi M16, Quân đội VNCH có  Khoảng 2000 khẩu M14
M14
SỰ RA ĐỜI CỦA SÚNG TRƯỜNG M.16
 

</div>

Kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ 2, Mỹ tập trung khá nhiều vào các vũ khí hạng nặng trong kế hoạch phòng ngự từ xa và bành trướng của họ. Mặt khác, lúc đó người Mỹ vẫn hài lòng với khẩu M1 Garand.
 

</div>

M14 được phát triển trên cơ sở M1, đây là mẫu súng trường bán động có khả năng chọn chế độ bắn. Nó được chấp nhận với vai trò súng trường tiêu chuẩn cho quân đội Mỹ từ năm 1959.

</div>

 
Súng trường M14

</div>

</div>

Mặc dù M14 có uy lực khá tốt với cỡ đạn 7,62 x 51 mm, tuy nhiên đây không phải là một mẫu súng thành công. Trọng lượng của súng khá nặng lên tới 5,2 kg, dài và rất khó xoay xở.

</div>

M14 thể hiện tốt vai trò của súng trường bắn tỉa, súng trường chiến đấu chứ không phải là một súng trường tiến công đúng nghĩa. Các chương trình nghiên cứu thực địa cho thấy phần lớn binh lính Mỹ tỏ ra không hài lòng với M14.

</div>

 
Do đó quân đội Mỹ cần một mẫu súng trọng lượng nhẹ có khả năng chiến đấu tốt với vai trò súng trường tiến công cá nhân. Bên cạnh đó sự ra đời của AK-47 đã thúc đẩy chương trình thay thế M14.

</div>

 
Dẫn đầu chương trình thay thế M14 là nhà thiết kế Eugene Stoner của Công ty Armalite với mẫu AR-15, sự phát triển của AR-15 được tiến hành vào khoảng năm 1956. AR-15 là một súng trường bán tự động hoạt động theo nguyên tắc trích khí trực tiếp. Súng sử dụng hộp tiếp đạn 5,56 x 45 mm (hộp tiếp đạn này về sau đã trở thành tiêu chuẩn của NATO cho súng trường cá nhân sau này).

</div>

 
 
Súng trường AR-15 với loa che lửa kiểu 3 cạnh

</div>

Sự vận hành của súng AR15 và M16

<h4 class="yt watch-title-container"><span> Tháng 02/1958, Hội đồng bộ binh quân đội Mỹ đã tiến hành đánh giá AR-15 với M14 tại trung tâm huấn luyện Fort Benning, bang Georgia. Các thử nghiệm cho thấy, AR-15 là một vũ khí tiềm năng để thay thế cho M14, nó bắt đầu được đưa vào sản xuất từ năm 1959. </span>Tuy nhiên sau đó vì lý do tài chính, Armalite đã bán thiết kế của mình cho hãng Colt vào năm 1959. AR-15 chính thức được chấp nhận bởi Không quân Mỹ vào năm 1961.</h4>
</div>

 
Quá trình đánh giá thực tế trên chiến trường

</div>

 
Năm 1962 khoảng 1.000 khẩu AR-15 được đưa đến chiến trường Việt Nam để tiến hành đánh giá. Các cố vấn Mỹ tại chiến trường Việt Nam đã nộp những bản báo cáo ca ngợi AR-15 không ngớt lời. Chỉ có những người trực tiếp sử dụng mới có một đánh giá đầy đủ về loại súng trường này.

</div>

Tháng 01/1963, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara ra lệnh ngưng sản xuất M14 và chấp nhận AR-15. Hãng Colt đã tiến hành sửa đổi AR-15 và súng được thông qua với tên gọi M16. Mặc dù M16 đã được báo cáo có những trục trặc trong lúc tác chiến cần phải sửa đổi một vài chi tiết nhưng nó vẫn được chấp nhận đưa vào trang bị

</div>

M16 là tên của một loạt súng trường do hãng Colt cải tiến từ súng ArmaLite AR-15. Đây là loại súng tác chiến bắn đạn 5,56×45mm. M16 là súng thông dụng của quân đội Hoa Kỳ từ năm 1967, và của quân đội các nước thuộc khối NATO, và có số lượng sản xuất cao nhất trong các loại súng cá nhân do các nước sản xuất trong cùng thời gian.
 
 

</div>

M16 khá nhẹ (3–4 kg) do có các phần làm bằng thép, hợp kim, nhôm và nhựa cứng (sợi thủy tinh hoặc polymer), sử dụng kỹ thuật giảm nhiệt bằng hơi, tác động lên cò bằng hơi ép , đạn lên nòng từ băng tiếp đạn với nòng xoay có đường khương tuyến . Quân đội VNCH được Mỹ cung cấp với số lượng gần1 triệu khẩu.

</div>

  •  Việt Nam Cộng hòa được trang bị khoảng 6.000 M16 và 938.000 M16A1, trong thời gian từ 1966-1975.

</div>

 
 

</div>

 

</div>

M16A1 với hộp đạn 30 viên
 
Có ba loại khác nhau trong qua trình sản xuất súng M16. Loại đầu tiên: M16 và M16A1, sử dụng trong thập niên 1960, bắn đạn M193/M196 (hoặc.223 Remington), có thể hoàn toàn tự động hay bán tự động, và hai mẫu XM16E1 và M16A1 đồng loạt được sử dụng ở chiến trường Việt Nam. Loại kế là M16A2, thập niên 1980, bắn đạn M855/M856 (do Bỉ sáng chế sử dụng cho trung liên FN Minimi), có khả năng bắn từng viên hay bắn từng loạt 3 viên. Loại sau cùng là M16A4, súng trường tiêu chuẩn của Thủy quân lục chiến HK trong chiến tranh Iraq.

<p><span>M16A4 và súng trường M4 Carbine dần dần được dùng thay thế M16A2, vốn đã hơi lỗi thời và kém tiện dụng. So với M16A1 và A2, M16A4 và M4/M4A1 có một số cải tiến về hình dáng ngoài: quai xách tháo rời có thể dùng để gắn kính ngắm, dụng cụ chấm mục tiêu bằng tia laser, kính nhìn ban đêm, đèn và súng phóng lựu. Hiện nay quân đội Mỹ đang dần thay thế M16 bằng M4.</span></div>

 
Từ đó về sau, M16 và các biến thể cải tiến của nó trở thành súng trường tiến công tiêu chuẩn của quân đội Mỹ. Biến thể đầu của M16 sử dụng hộp tiếp đạn 20 viên, các biến thể về sau sử dụng hộp tiếp đạn cong 30 viên. 
 
CÁC ƯU và YẾU ĐIỂM CỦA M16
 
 M16 là loại súng có tốc độ bắn rất nhanh, tốc độ bắn ở chế độ tự động từ 700-950 viên/phút do đó nó còn được gọi với biệt danh “tiểu liên bắn nhanh”. Một ưu điểm nữa của M16 là sơ tốc đầu nòng rất lớn lên đến 948 m/s giúp viên đạn chạm tới mục tiêu nhanh hơn. Ngược lại thì M16 thường rất dể bị kẹt đạn vì độ “Jeu” (khoảng cách giửa nòng súng và viện đạn rất ít), nên khi bị bụi đóng là đạn khó rời khỏi nòng, do đó người lính phải giử gìn và lau chùi thường xuyên để tránh kẹt đạn.
Lý do kẹt đạn của M16
Để tránh cho tình trạng hay kẹt đạn,  với loại súng trường M16A1, người ta bổ sung thêm một bộ phận gọi là “foward assist” và M16 là súng trường cá nhân duy nhất có trang bị bộ phận này để chống kẹt đạn. Nó là một cái cần nhỏ ở buồng đạn dùng để đẩy khóa nòng về vị trí đóng trong trường hợp kẹt đạn do lò xo không đẩy về hết. Khi kẹt đạn, người bắn sẽ ấn vào cái cần nhỏ này để đẩy khóa nòng về và lên viên đạn mới.  Trong các cuộc khảo sát được thực hiện vào năm 1967, trong số 1.585 binh lính được đặt câu hỏi về độ tin cậy của M16 có đến 80% binh lính trả lời là họ đã từng bị kẹt đạn khi sử dụng loại súng này.
Cho đến khi M16 được thay thế bằng M4A1 thay đổi hẳn cơ cấu dẩn khí thoát trực tiếp sang sử dụng piston ngắn thì yếu điểm kẹt đạn của M16 mới được giải quyết.
Súng  M4A1 được trang bị cho quân đội Mỹ năm 1994, súng này đã chứng tỏ khả năng vượt trội là gần như không bị kẹt đạn, bắn tự đông 800 viên một phút, nhanh hơn các loại súng trường củ của Mỹ sản xuất trước đó..
 
Võ thị Linh sưu tầm 3/5/2016

</div>
” data-medium-file=”” data-large-file=”” />

Xám Pạc Kún” Lý Đức Quân(TĐT/TĐ3/8) và tác giả, hình chụp năm 1965

Năm 1973 “Ông Thầy” mất, tôi được tin trể và không biết thêm về tang lễ ở đâu, vì đang lúc cùng dân chúng Bình Long tỵ nạn ra Rừng Lá Long Khánh định cư; tôi chỉ gởi lời đăng báo”Khóc Thầy” trên nhật báo Sóng Thần.

Mãi đến bây giờ hơn 40 năm sau, qua liên lạc với NT K16 Trung Tá ND Bùi Quyền, tôi mới biết thêm chi tiết về sự hy sinh của cố Chuẩn Tướng Lý Đức Quân (như trên); một người thầy đã dẫn dắt tôi trên đường binh nghiệp ở đơn vị đầu đời là Tiểu Đoàn 3/8 SĐ5BB.

Nếu Đại Tá Woòng A Sáng là người đầu tiên có công thành lập những đơn vị tiên khởi gốc người Nùng từ ngoài Bắc đưa vào Nam (1954), thành lập SĐ5BB sau này, thì cố Ch.T Lý Đức Quân là quân nhân cấp tướng người Nùng hy sinh sau cùng cho Sư Đoàn danh tiếng này.

Tôi ra trường VBĐL khoá 19 và xin về SĐ5BB, cùng sống và chiến đấu với những quân nhân gốc Nùng suốt thời gian từ 1965 đến 1969 mới chuyển đi đơn vị khác phục vụ. Trong vòng 4 năm đầu đời ở đơn vị tác chiến, luôn di động hành quân qua các mật khu Tam Giác Sắt, Hố Bò, Bến Cát, Rạch Bắp, Bưng Còng…, lùng và diệt địch trong các chiến Khu C (Bời Lời, Dương Minh Châu), Đ (Phước Long, Bình Long, Phước Thành), tôi đã trưởng thành trong chiến trận với những đồng đội sắc tộc Nùng dũng cảm, anh hùng trong Quân Lực VNCH miền Nam.

SĐ5BB thời tôi đang phục vụ đã từng được thành lập và chiến đấu từ miền Bắc vào (1954), đóng quân tại Sông Mao(Bình Thuận), chuyển quân về Biên Hoà, sau cùng về Bình Dương (Phú Lợi, Lai Khê). Đơn vị đa số quân nhân gốc Nùng này rất can đảm và thiện chiến, không theo một phe phái nào, đã tham dự nhiều chiến dịch đánh quân Bình Xuyên(Rừng Sát) năm 1956, từng tham gia đảo chánh(Saigon) ngày 1-11-1961.

Suốt trong cuộc chiến tranh chống quân CSBV tiến chiếm miền Nam (1962-1975), SĐ5BB đảm nhận làm lực lượng đánh, ngăn chặn quân du kích VC và quân chính qui

CSBV, từ các chiến khu miền Đông áp sát Thủ Đô Saigon.

Khu 32 chiến thuật của Vùng III là một quân khu chịu nhiều áp lực nặng nề nhất từ lúc Hà Nội chỉ thị và điều động MTGPMN tổ chức đánh phá các khu lân cận Thủ Đô Saigon; cho đến khi Bắc Việt chuyển quân chính qui theo đường mòn Hồ Chí Minh vào Nam, sau cùng chiếm lấy Saigon.

VC rất sợ lính Nùng, một khắc tinh chống Cộng của họ từ miền Bắc, nên họ tuyên truyền thêu dệt cho lính Nùng là tàn ác, giết người không gớm tay, ăn gan uống máu… Tôi sống với đồng đội người Nùng nhiều năm, chứng kiến bao nhiêu là thay đổi, từng trải qua chiến trận; tôi rất kính phục từ cấp chỉ huy cho đến binh sĩ đều có những đức tính như ngay thẳng, trung thành, giữ gìn quân phong quân kỹ, can đảm, liều lỉnh, tình nghĩa đồng đội khi chiến đấu, tôn trọng đồng bào ở hậu phương.

Những đức tính tốt, lập nhiều chiến công (6 lần được tuyên dương trước Quân Đội) lại là những chuyện không may cho quân nhân và đơn vị SĐ5BB của chúng tôi qua nhiều năm tháng chiến trường.

Tôi về TĐ3/8 được bổ nhiệm ngay chức vụ ĐĐP/ĐĐ Chỉ Huy; nơi đây tôi chứng kiến qua văn bản và điều động quân số anh em lính Nùng chuyển đi các đon vị khác ngoài SĐ, tiếng là lấy người làm khung cho bổ sung quân số. Ngay cả Đại Tá Wòng A Sáng là người thành lập SĐ từ ngoài Bắc, cũng đã bất mãn bỏ đi.

Trong TĐ 3/8 chúng tôi, lính Nùng không còn cấp binh sĩ, thấp nhất là cấp hạ sĩ nhất trở lên; vẫn còn những HSQ đến SQ cấp uý, cấp tá ( nhưng SĐ thì chưa có cấp tướng?). Hàng tháng tôi làm phát hướng viên, phát lương cho những anh em có tên lạ và rất khó nhớ như Wòng Phóng, Wòng A Pẩu, Wòng Say Zếnh, Si Siu Coóng, những người sắc tộc họ Vi, họ Đèo, họ Tsau….Mỗi kỳ phát lương đều có sự chứng kiến của cấp tiểu đội trưởng, trung đội trưởng đếm quân, sĩ quan tài chánh kiểm soát,  ban an ninh, ban quân số…chứng kiến, nên không thể xãy ra lính ma lính kiểng(không có mặt mà lảnh lương, hay cho người lảnh giùm)).

Bạn cùng khoá của tôi là anh Châu Minh Kiến, ra ĐĐ9 sau vài tháng liền bắt chức ĐĐT, vì khả năng chỉ huy, tinh thần chiến đấu cao được anh em binh sĩ kính phục; TĐT cất nhắc qua thành tích chiến đấu chớ không phải mua chuộc. Khoá 19 VBĐL chúng tôi ra trường (cuối năm 1964) về SĐ5BB, nhiều bạn hy sinh sau vài tháng đáo nhậm đơn vị, nhưng cũng có người lên cấp bậc chức vụ cũng khá nhanh. Đầu năm 1968, Tr/u Vũ Huy Thiều ĐĐT thuộc TRĐ7, chiến thắng VC tấn công vào Quản Lợi, Bình Long; được thăng cấp Đ/u tại mặt trận, lên luôn chức vụ TĐT/TĐ4/8, Năm 1969 Th/T Châu Minh Kiến làm TĐT/TĐ1/8 tử trận tại Dầu Tiếng, được truy thăng Tr/T. Sau cuộc chiến Mùa Hè Đỏ Lửa tại An Lộc, Tr/T Nguyễn Văn Tâm lên nắm TRĐT/TRĐ8 tại mặt trận.

Trong suốt thời gian sống ở TĐ3/8 ở BCH/TĐ, bên cạnh TĐT là Đ/u Lý Đức Quân (lính Nùng gọi ông là Xám Pạc Kún; gọi tôi: (Th/u) là Zách Pạc Kún, theo âm hưởng tiếng Quảng Đông), tôi biết rõ nét văn hoá và đạo đức, niềm tin tôn giáo của người  lính Nùng. Lúc nào cũng không rời ông là người lính cận vệ mang theo lá cờ đỏ và bó nhang. Mỗi khi hành quân, người lính cờ này theo sát chủ tướng; khi ông ra lệnh xung phong lá cờ tung phất bay lên phía trước, chỉ huy lên đến đâu, lính theo cờ đến đó, không bỏ chủ tướng. Khi đóng quân chỗ có miếu Tiên Sư hay nơi thờ phượng, lá cờ được cắm nơi trang trọng. Nhưng hành quân đêm thì có lệ đốt nhang theo cờ, làm tôi sợ lộ bí mật nguỵ trang ánh sáng ban đêm (?)

Cứ mỗi tháng vào ngày mồng 2 và 16 âm lịch, BCH có tục lệ cúng ông Án, thần hộ mạng cho đơn vị; đích thân Xám Pạc Kún làm chủ lễ, và xem cặp giò gà để biết điềm hên xui có thể xãy ra mà tránh trước (!) Nhiều khi cũng có sự linh ứng (!) bất ngờ mà tôi cảm thấy niềm tin vào thần linh đó, làm cho lính tráng an tâm vững bụng trong vô vàn nguy hiểm trước mắt họ bước chân vào trận địa.

Tôi chưa có gia đình nên coi đơn vị mình là nhà, hành quân rày đây mai đó vùng này sang vùng khác, chạm địch liên miên: phục kích đêm giữ cầu đường QL13, lục soát phá huỷ hầm hố địa đạo miệt Ngã Ba Tân Qui(Tân Thạnh Trung, giữa đường Binh Dương Củ Chi), đóng quân ngăn chặn đường xăm nhập VC vào Tân Thạnh Đông (giáp ranh Hóc Môn, bên này sông Saigon), khi thì trấn thủ Phú Hoà Đông, Bến Cỏ sát mật khu Hố Bò, bên kia sông Saigon là mật khu Tam Giác Sắt.

Lắc lư trên võng nằm đêm tuyến trận, đóng đồn mở đường an ninh trục lộ QL13, hành quân vào vùng địch đóng, chúng tôi lính hay quan đều cực khổ đời lính như nhau, chia sẻ nổi niềm tâm sự. Người Nùng họ có niềm tin tôn giáo thờ Thánh Quan Âm, tin vào chủ soái lãnh đạo chỉ huy, giữ đạo đức làm người tốt; đa số đều có gia đình, nên họ mơ ước khi giải ngủ về Sông Mao (quê hương thứ hai sau miền Bắc), hay mua miếng đất ở Phương Lân, Định Quán, Long Khánh để làm rẫy, sống bình dị, đầm ấm với gia đình.

Trái với tuyên truyền của VC người lính Nùng ở SĐ5BB không hiếu sát. Họ chỉ làm tròn bổn phận người chiến binh đánh giặc ngoài mặt trận, cầm súng chiến đấu vì nghĩa vụ; không sát hại dân lành súc vật, phá hoại môi trường sống. Đ/u Quân rất nghiêm với lính; ông cắt đặt tôi coi luôn Ban 5 TLC, ghi nhận báo cáo định kỳ về kỹ luật tác phong, những vụ việc làm mất lòng dân, thiệt hại tài sản của dân trong vùng hành quân, tăng cường hoạt động dân sự vụ khám bệnh phát thuốc…Gia đình ông và thuộc hạ đa số ở trại gia binh Tam Hiệp, Biên hoà. Đơn vị của chúng tôi luôn học tập Tâm Lý Chiến, ngăn cấm mọi quân nhân tội cờ bạc, rượu chè say sưa; hình phạt nặng cho người nào vi phạm quân luật, làm mất quân phong quân kỹ, gây tiếng xấu cho đơn vị.

Sau cuộc hành quân lớn ở mật khu Hố Bò giữa năm 1965, tôi bị thương được đưa về BV Cộng Hoà, nhận lệnh mới sang chỉ huy một ĐĐ tác chiến khác của TĐ4/8 Tân Lập.

Giữa năm 1968, sau Tết Mậu Thân, tôi về làmTĐP/TĐ1/8 (Đ/u Châu Minh Kiến là TĐT). Sống và chiến đấu với tinh thần chiến đấu của lính Nùng, hai bạn chúng tôi cùng đơn vị không phút nào rảnh tay, luôn ở những tuyến đầu nguy hiểm nhất (TĐ làm trừ bị cho SĐ):

Vừa mới đẩy lùi TRĐ/VC Đồng Nai ra khỏi chỗ lẫn trốn An Sơn, Bà Lụa (Búng-Bình Dương), TĐ liền nhảy trực thăng vận vào Tam Giác Sắt lùng địch; tiếp lệnh hành quân phối hợp với TRĐ11Thiết Giáp Mỹ (Đ/T Patton) bao vây phá huỷ hậu cần VC tại làng Chánh Lưu. Chưa nghỉ ngơi lấy sức lại thì có lệnh nhảy trực thăng vào đường mòn HCM ở Bù Gia Mập, hành quân phối hợp với TĐ81BCND, phá kho lương thực trong rừng chiến khu Đ.

Ngoài tuổi trẻ hăng hái (chưa ai tròn 30 tuổi) chúng tôi được tin cậy giao phó cho những nhiệm vụ khó khăn đầy thách thức. Qua tài chỉ huy của TR/T Lê Nguyên Vỹ TRĐT/TRĐ8, một quân nhân lâu năm gắn bó với SĐ, với tinh thần chiến đấu cao quân nhân các cấp trong TĐ, chúng tôi không làm hổ uy danh của SĐ5BB thời bấy giờ.

Vật đổi sao dời vì cái số binh nghiệp, tôi bị sốt rét rừng sau cuộc hành quân lâu ngày trong rừng Phước Long, nên tháng 6-69 được cho về Saigon học khoá Quân Chánh. Đ/u TĐT Châu Minh Kiến lên Th/T, dẫn dắt TĐ1/8 chiến đấu như hổ dữ, hành quân di động lên Dầu Tiếng, chiến khu C. Vài tháng sau, nghe tin bạn tử trận tại làng 13 Dầu Tiếng được truy thăng Tr/T; tôi về đưa xác bạn lên nghĩa trang, lòng buồn thương tiếc cho bạn đồng khoá ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ (30t).

 (H1.Cố TrT Châu Minh Kiến (TĐT/TĐ1/8)và TrT Lê Nguyên Vỹ (TRĐT/TRĐ8) trong một cuộc hành quân chung với Mỹ. H2 Cố ChT. Lê Nguyên Vỹ TL/SĐ5BB,tuẩn tiết năm 1975)

 

</header>

Tôi viết những lời thơ trên khi đọc bài viết của Niên trưởng Giao Chỉ Vũ Văn Lộc (GCVVL) khi mới đây ông kể lại chuyện QLVNCH tái chiếm Cổ Thành Đinh Công Tráng.

Có Những Vần Thơ

“Cờ bay ! Ôi Cờ bay !!
Trên Cổ Thành sừng sững
Còn cờ nào…không bay
Xác Nhẩy Dù …ôm cứng ?

Chết ôm cờ : Mũ Đỏ !
Sống dựng cờ : Mũ Xanh !!
Ghi rõ trong Quân Sử

Công trạng của các anh “

Cổ Thành Quảng Trị
(Truyện Chúng Mình/HN)

<p class="style4">Tôi viết những lời thơ trên khi đọc bài viết của Niên trưởng Giao Chỉ Vũ Văn Lộc (GCVVL) khi mới đây ông kể lại chuyện QLVNCH tái chiếm Cổ Thành Đinh Công Tráng, Quảng Trị 15/09/1972.</p>
<p class="style4">Vào tuổi ngoài 70, theo gương Mục Sư Lập (thầy dậy Khóa Cương Quyết, Sỹ Quan Trừ Bị Thủ Đức), tôi nghĩ rằng ..mọi chuyện đều nhẹ nhàng, hư vô, cố làm việc tốt mỗi ngày dâng lên CHÚA…<br />
Nhưng  cho thật rõ ràng, tôi xin kể lại  tại sao đời tôi liên hệ tới Mũ Đỏ (Nhẩy Dù), Mũ Xanh (Thủy Quân Lục Chiến), Mũ Đen (Lữ Đoàn Liên Binh/Phòng Vệ Tổng Thống Phủ..để nhất tuấn đã có những vần thơ :</p>
<p class="style4"><em>“..Mũ Đỏ, Xanh, Đen…đều đội hết </em><br />
<em>Làm tên lính …giữ nước không xong !!!</em><br />
<em>Quê Người thương mãi về Quê Mẹ</em><br />
<em>Thật tủi cho con Tổ cháu Tông !</em><br />
<em>Nhắc Truyện. Chúng Mình (1) đau truyện Nước</em><br />
<em>Chờ Xuân, năm mãi…bốn mùa Đông</em></p>
<p class="style4"><strong>Tướng Mạo Quân Vụ (trích ngang)</strong></p>
<p class="style4">10/1953           gia nhập trường Võ Bị Nam Định, khóa 7<br />
02/1954           tình nguyện phục vụ tiểu đoàn 5 Nhẩy Dù VN<br />
01/ 1961 <strong><em>         </em></strong><em>do thư điệp của Văn Phòng Biệt Bộ Tham Mưu/Phủ Tổng thống</em></p>
<p class="style4"><strong><em>Tổng Thống chỉ thị:các sỹ quan thuộc Nha Chiến Tranh Tâm Lý/BQP </em></strong>gồm <strong><em>đại úy Khiếu Hữu Diêu  thuộc quyền xử dụng của Liên Đoàn Nhẩy Dù và trung úy Phạm Hậu  id của Liên Đoàn Thủy Quân Lục Chiến :<br />
</em></strong>Đại Úy Diêu về làm Phụ Tá Trưởng Phòng 3 L Đ Dù, sau là Tiểu Đòan trưởng TĐ3/ND.<br />
Trung Úy Hậu về làm Sỹ Quan Trưởng Ban 2&amp;3 của Tiểu Đoàn 1 TQLC.</p>
<p>Hai tháng sau, khi có lệnh rời đơn vị, dù sỹ quan đương sự làm đơn xin tình nguyện ở lại với  TĐ1/TQLC, trên vẫn không chấp thuận; do đó Trung Úy Phạm Hậu vừa được vinh thăng đại úy, về làm Đại Đội Trưởng Đại Đội 3  trực thuộc Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ/ Phủ Tổng Thống.</p>
<p class="style4">Ở Nhẩy Dù vẻn vẹn từ 3/1954 tới 3/1955, bị giáng cấp từ trung sĩ xuống binh nhì, rồi đào ngũ, tuy vậy tôi có nhiều kỷ niệm với các sỹ quan, trung đội trưởng ngày xa xưa,  tới nay vẫn còn liên lạc lai rai với các đại tá  Nguyễn Phẩm Bường, Đỗ Đình Lũy, Hoàng Đức Ninh, Nguyễn Văn Tường và  cả 2 vị trước khi chết  Nguyễn Bá Trước, Huỳnh Long Phi. ….<br />
Đọc bài của niên trưởng GCVVL xong, tôi cảm khái tột cùng. Trong bài viết này, có cả bài thơ của thi sĩ Cao Tiêu, với hai câu chót: :</p>
<p><em>“<strong>Lòng ta … như Thành này</strong></em><br />
<strong><em>Vinh Quang  trong tan nát”</em></strong></p>
<p class="style4">Và vì 2 câu thơ này, sau hơn 40 năm rời Đài Phát Thanh Quân Đội tôi đã xin liên lạc với niên trưởng Hoàng Ngọc Tiêu để bầy tỏ sự cảm phục của tôi về 10 chữ cuối cùng trong bài thơ đó, bài thơ ông viết khi tôi đã rời Cục Tâm Lý Chiến, đang ở bên bộ Thông tin. Chút duyên thơ cuối đời đã giúp tôi thoải mái làm việc này với cấp chỉ huy cũ và cũng là vị Niên Trưởng hơn tôi 8 khóa học ở VB ĐL mà một lần trong buổi họp tôi đã có cử chỉ vô lễ với thượng cấp.<br />
Sáng nay, 01/08/2009, đọc email thứ hai của niên trưởng GCVVL về Cổ Thành Quảng Trị, tôi càng cảm động hơn vì ông viết:</p>
<p class="style4"><strong><em>“Lịch Sử và tính chất Nhân Bản của trận Quảng Trị mới là điều đáng chú ý để giữ lại cho con cháu đời sau! “</em></strong></p>

<p class="style4">Niên trưởng GCVVL đã viết khá nhiều chi tiết về trận đánh này… vì đa số  nhân vật chính, Lữ Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn trưởng và sỹ quan tham mưu đều thuộc Khóa 4 Phụ/ Khóa Cương Quyết, trường Võ Bị Trừ Bị Thủ Đức. Không kể trong số này có 3 người cùng Khóa Cương Quyết (khóa 4 Phụ Thủ Đức) với ông, có người cùng Trung Đội khi học ở trong trường.</p>
<p class="style4">Vì phía Mũ Đỏ, những người trực tiếp tham dự trận Cổ Thành Quảng Trị chưa có ai lên tiếng; tôi, cựu binh nhì Mũ Đỏ, xin phép được góp đôi lời về phía Nhẩy Dù. Có điều gì sơ xuất, xin quý vị trong Sư Đoàn Dù, đặc biệt Lữ Đoàn 2 ND vui lòng bổ chính cho. Đa tạ.</p>

<p class="style4"><strong>Tại sao TQLC thay thế Nhẩy Dù dứt điểm Cỗ Thành?<br />
Nhảy Dủ đánh không nổi ??    </strong></p>
<p class="style4">Xin nhớ là khởi đầu, ND đã thanh toán Tri Bưu Triệu Phong, tất cả các chốt ngoại và sát Nội Thành Quảng Trị, số thương vong cả ngàn quân.. Nay đã tới sát Cổ thành, chết nhiều nên phải đánh cho thật chắc chắn, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Dù chỉ thị:</p>
<p class="style4">1-Liên Đội Biệt Kích Dù (tăng phái):<br />
Ngăn chặn việc tăng viện, tiếp tế của địch vào Cổ Thành từ phía Nam.<br />
2-Trinh Sát Nhẩy Dù:<br />
Ngăn chặn việc tăng viện, tiếp tế của địch vào Cổ Thành từ phía Bắc<br />
3-Pháo binh cơ hữu của L Đ2 Dù phối hợp, để ít nhất mỗi giờ  pháo 100 viên (đạn đủ loại) vào các chỗ trú quân trong Cổ Thành.<br />
4-Khi đánh Cổ Thành chúng ta chỉ chấp nhận thiệt hại quân số ít, hoặc địch xin đầu hàng.</p>

<p class="style4">Buổi họp sáng  ngày 16/7/1972, có khoảng 30 người dự :<br />
BTL/Quân Đoàn có 10 người,<br />
Nhẩy Dù và TQLC, mỗi bên 10 người.  .<br />
Mở đầu buổi họp, tướng Ngô Quang Trưởng nói ngay vào điểm chính :</p>
<ul>
<li class="style4">  <strong>Ngày mai, 17/7 TQLC sẽ thay ND đánh vào Cổ Thành</strong></li>
</ul>
<p class="style4">Vì tướng Dư Quốc Đống Tư Lệnh Dù cũng có mặt trong buổi họp nên đại tá Trần Quốc Lịch, Lữ Đoàn trưởng L Đ 2 ND giơ tay xin phép tướng Đống để hỏi tướng Truởng:</p>
<ul>
<li class="style4">Xin phép tướng Tư Lệnh cho tôi có câu hỏi với Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn.</li>
</ul>
<p class="style4">Ông Đống gật đầu</p>
<ul>
<li class="style4">Kính thưa Trung Tướng Tư Lệnh Vùng 1/kiêm TL Quân Đoàn 1, câu hỏi của tôi như sau: “Nhẩy Dù chúng tôi đã đánh vào thành phố Quảng Trị từ lúc khởi đầu, nay chỉ còn có cái <strong><u>…”sân banh này”.</u></strong> Vì không thấy cần phải thí quân, chúng tôi chưa dốc hết toàn lực…Nay lại phải lui ra để TQLC vào…thật..</li>
<li class="style4">Đó là lệnh thượng cấp!! Ông Trưởng ngắt lời.</li>
</ul>
<p class="style4">Và Ông Lịch cũng nói thẳng ngay  ý nghĩ  của mình có lẽ đã có sẵn trong đầu :</p>
<ul>
<li class="style4">Thế này… chẳng khác nào ND.. cầm c.. cho người khác đái !!</li>
</ul>
<p class="style4">Tướng Trưởng đứng phắt dậy, nghiêm mặt :</p>
<ul>
<li class="style4">Buổi họp sẽ tiếp tục. Xin anh em chờ tôi.</li>
</ul>
<p class="style4">Nói xong ông rời phòng thuyết trình bước nhanh sang phòng bên cạnh. Tướng Đống rất phật ý vì câu nói của đại tá Lịch nên khi ông Trưởng rời phòng, ông nói ngay :</p>
<ul>
<li class="style4">Khi tôi cho phép, tôi thật không ngờ anh Lịch đã nói câu vừa rồi !</li>
</ul>
<p class="style4"><strong>Việc gì rồi cũng sẽ qua đi cả. </strong><br />
Dù sao tướng Trưởng đã là Tham Mưu Trưởng và Tư Lệnh Phó của Nhẩy Dù chúng ta. Anh em nên nhớ kỹ điều này, điều quan trọng là  Quân Dân có quý mến chúng ta hay không ? Đó mới là điều tôi mong mỏi ở anh em. Đơn vị này chiếm thành này, đơn vị kia đánh bốt kia.. không quan trọng để anh em chúng ta mất hòa khí !!..<br />
Trực tiếp với bộ tham mưu dưới quyền, ông dặn:</p>
<ul>
<li class="style4">Lát nữa, khi tướng Trưởng trở lại phòng họp nói điều gì thêm , nếu tôi chưa nói, phía Nhẩy Dù không ai được phép lên tiếng.</li>
</ul>
<p class="style4">Hôm đó Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng  Khiêm, đại tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Đặng Văn Quang chẳng biết có ở Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 1 hay không, nhưng chắc chắn đã tới Huế đêm hôm trước. Và cũng không hiểu ông Trưởng điện thoại hay nhận khẩu lệnh, 20 phút sau, tướng Trưởng trở lại phòng họp. Ông đứng nhìn mọi người một chút rồi  nói thật rõ ràng :</p>
<ul>
<li class="style4">Nhiệm vụ là nhiệm vụ chung. Mỗi lúc một thích nghi cùng với các chỉ thị cần thiết cho các giới chức hay các đơn vị. Thượng Cấp chỉ thị: vào 25 tháng 7, thay vì 17/7 Nhẩy Dù sẽ bàn giao khu vực trách nhiệm cho TQLC để TQLC dứt diểm Cổ Thành  càng sớm càng tốt !</li>
</ul>
<p class="style4">….<br />
Nhưng lệnh dù phải thi hành theo thời gian nhanh nhất, tới khi TQLC vào vùng bàn giao xong cũng đã là  ngày 26/7/72.</p>
<p class="style4">Có 1 sự trục trặc không hiểu tại sao, trước khi Lữ Đoàn thông báo lệnh dậm chân tại chỗ để chuẩn bị bàn giao, tiểu đoàn 5(-) ND do Thiếu Tá Bùi Quyền, Tiểu Đoàn Phó, chỉ huy  đánh vào phía Đông Cổ Thành, và vào khoảng 10:00 AM ngày 25/07/72,  Không Quân của ta đã oanh kích lầm. Đại Đội Trưởng Trương Đăng Sỹ bị thương nặng, và một trung đội lính Dù mất tích !</p>

https://i0.wp.com/tqlcvn.org/images/huy%20hieu%20SD.gif

<p class="style4">Ngày 26/07 TQLC hoàn toàn thay thế Nhẩy Dù và 27/07, khởi sự tấn kích Cổ Thành Quảng Trị  cho tới 15/9/1972 thì hoàn toàn tái chiếm thành này. tại An Lộc Bình Long Bắc Quân tấn công bao vây 86 ngày, nay đã tự rút. Cổ Thành Quảng Trị Bắc Quân  chiếm giữ và 81 ngày, sau được Nam Quân tái chiếm. Khi lục xoát, TQLC thấy Bắc Quân chết khá nhiều  khắp mọi nơi và trong đó  có cả 2 xác Mũ Đỏ của Nam Quân đã chết cứng, nằm đè lên  lá cờ khổ 3×5, cây  Cờ Vàng ba Xọc Đỏ!!</p>

<p class="style4">…………</p>
<p class="style4">Bài này được viết với lời kể lại có ghi âm của các nhân vật trực tiếp tham dự  cuôc hành quân  của LD 2 Dù, từng bước, từ khi tái chiếm Tri Bưu, tới giai đoạn thanh toán các chốt trong thành phố và cũng đã dự buổi họp ngày 16/7/1972 cùng với  các ông Truởng, Đống, Lân  Lịch…</p>
<p class="style4">Hoa Kỳ 01/08/2009<br />
Phạm Hậu</p>
<p>—————————-</p>
<p>Cũng nhân dịp này, tôi xin gửi những bài thơ tôi làm có liên hệ tới Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến từ nhiều năm qua:</p>
<p><em>Những Nàng Tiên Mũ Đỏ</em><br />
<em>Trung Đội Cũ </em><br />
<em>(đã phổ nhạc bởi nhạc sĩ Minh Châu , Paris, tháng 08/2009)</em><br />
<em><a href="http://hathaykhongbanghayhat.org/">http://hathaykhongbanghayhat.org</a></em><em>  –Kyra Nguyen hát</em><br />
<em>Trần Kiều Vinh </em><br />
<em>Khóa 12, Khóa Cộng Hòa</em></p>
</div>
</div>
<p>&nbsp;</p>
” data-medium-file=”” data-large-file=”” />

(H1.Cố TrT Châu Minh Kiến (TĐT/TĐ1/8)và TrT Lê Nguyên Vỹ (TRĐT/TRĐ8) trong một cuộc hành quân chung với Mỹ. H2 Cố ChT. Lê Nguyên Vỹ TL/SĐ5BB,tuẩn tiết năm 1975)

Từ ngày đó tôi không còn sống chia ngọt xẻ bùi, cùng đơn vị với anh em người Nùng, với những cấp chỉ huy uy dũng như các ông thầy Lý Đức Quân, Lê Nguyên Vỹ.

Trước khi xãy ra chiến cuộc Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 tại An Lộc, Bình Long, tôi còn có dịp gặp lại thầy Vỹ hai lần, ông không còn được trọng dụng, không phải vì kém tài thiếu đức mà vì khác quan điểm chiến thuãt, bị nghi kỵ phe phái, ảnh hưởng họ Lê Nguyên của ông (?); làm một chức vụ phụ tá ngồi chơi xơi nước, theo dõi báo cáo hành quân tiền phương.

Chỗ làm việc của ông trong căn phòng nhỏ trong Ty Chiêu Hồi của Tỉnh, một chiếc bàn con, một cái ghế bố nhà binh, để theo dõi báo cáo tình hình các đơn vị tăng phái hành quân trong vùng. Trong khi đó những người thay thế ông từ miền Tây được đưa lên, làm sao rành rẽ “con cái”, biết đường đi nước bước, chiến thuật miền Đông  của địch như ông.?

Ngay từ ngày đầu súng nổ từ nửa đêm 4-4-72, chính ông đã trực tiếp chỉ huy chúng tôi, bố trí trận địa trong thị xã An Lộc, nhưng ông không được quyền chỉ huy các TRĐ mà ông từng nắm quân; ông cá nhân chiến đấu khi vác M72 bình tỉnh ra chận bắn cháy xe tăng địch với những người lính cũ ngay tuyến mặt trận. Nhưng ông không nhận được một chút hào quang nào sau trận chiến, đáng lẽ phải được tưởng thưởng xứng đáng! Công trạng ông bị bỏ quên vô tình hay cố ý, chỉ vì đố kỵ hay nghi kỵ nhỏ nhen? Ộng không nề hà hay khiếu nại cứu xét, kể lể chiến công; một tấm gương để chúng tôi noi theo: vì nước quên mình vì dân chiến đấu!

Đó cũng là tinh thần của lính Nùng, không nề hà công trạng, mà tôi vẫn còn nhớ mãi khi Đ/u Quân đã có mặt, lên tận tuyến đầu ngay tại ĐĐ10 do tôi chỉ huy bị địch phục kích trong rừng dày đặc Hố Bò; giữa lúc chúng tôi đang tấn thối lưỡng nan thì ông đã có mặt giúp tinh thần binh sĩ chống trả. ĐĐ 9 do Châu Minh Kiến chỉ huy, đi phía sau, vòng lên bọc hậu, chỉ vài phút sau giải quyết chiến trường nhanh gọn, với xác địch nằm lại và chiến lợi phẩm tịch thu. Là thuộc cấp của những ông thầy, chỉ biết xả thân cho đơn vị cho đàn em, chúng tôi biết ơn và ca tụng các vị đó trân trọng.

Dầu tháng 4-72 VC chiếm xong Lộc Ninh; quân CSBV pháo kích dọn đường vào An Lộc; tiếng nổ dội lên đầu như bị đập búa, nhưng bổng nghe qua tiếng của thầy Quân trong máy, tôi mừng rỡ tỉnh người. Lần đó tôi mới biết ông là TrT/TrĐT/TrĐ7 đóng quân cùng tuyến vòng đai chặn địch với chúng tôi. Ông hỏi thăm, ân cần khích lệ, ấm áp tình đồng đội trong lúc căng thẳng như hồi tôi còn ở dưới quyền ông cùng đơn vị. Mãi hơn 40 năm sau, mới biết rõ thầy tử trận (xãy ra như thế nào?), tôi thương ông vô hạn, tiếc nhớ ngậm ngùi như mất người thân.

Lòng tôi càng buồn hơn, mỗi khi nhớ về SĐ5BB trước năm 1975: lính Nùng nhiều người đã giải ngủ hay đổi đi đơn vị khác, cấp chỉ huy chuyển đổi vùng, về chỗ mới, SĐ không còn thuần nhất. Thay vào đó có những cấp chỉ huy thối nát tham nhũng và tồi tệ, đến nỗi họ phải kéo nhau vào Quân Lao Gò Vấp để trả nợ phạm quân luật, làm nhục cho tai tiếng của SĐ5BB một thời danh tiếng.

Mặc dù vào những ngày chót Tướng Lê Nguyên Vỹ đã trở lại SĐ (không ai thay thế hay hơn ông), nhưng đã quá trể, đại đơn vị này không còn nguyên vẹn như trước; tướng Vỹ còn để lại một dấu ấn son sắc cho SĐ5BB/QLVNCH vào giờ phút chót: tuẩn tiết giữ thanh danh!

Ngồi viết những dòng chữ này làm tôi càng nhớ đến, hãnh diện thời tuổi trẻ đi lính gặp được những cấp chỉ huy ngay thẳng tử tế, những người lính can trường đánh trận, một đơn vị anh hùng lừng danh; nhưng cũng thương tiếc đến đồng đội đã hy sinh, ra đi không trở lại!

Tôi muốn chia sẻ với những người lính Nùng dễ thương tình đồng đội cũ, thân mến với những quân nhân đã từng phục vụ trong đơn vị kỳ cựu sống chết của SĐ5BB, lời tâm sự chân thành này. Dù ở nơi đâu bây giờ, và cũng chưa có một lần họp mặt, nhưng chúng ta hãnh diện đã từng là anh em đồng đội sống chết, cùng chung chiến đấu dưới lá quân kỳ mang danh hiệu SĐ5BB lính Nùng anh dũng!

Trần Cẩm Tường – Sống và đánh giặc với lính Nùng SĐ5BB/QLVNCH

 

 

 

 

 

 

 

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s